Bây giờ là: 16:03:27 30/07/2014

Tiếng lóng trong tiếng Việt hiện đại

Sơ luợc về tiếng lóng

Tiếng lóng trong tiếng Việt hiện đại

Tiếng lóng là một thực tế đầy sinh động mà hầu nhu bất kỳ ngôn ngữ nào cũng có, dù muốn hay không. Văn hào Victor Hugo (1802-1885) từng chú ý sử dụng tiếng lóng trong tác phẩm Ngày cuối cùng của một tử tù (Le dernier jour d'un condamné; 1828); thậm chí còn dành hẳn cả quyển VII trong phần thứ tu của bộ tiểu thuyết đồ sộ nổi tiếng Những nguời khốn khổ (Les Misérables; 1861) để bàn riêng về tiếng lóng. Ðây là những nhận định của Victor Hugo: "Tiếng lóng là gì? Là quốc gia, đồng thời là quốc âm; đó là sự đánh cắp duới hai hình thức: nhân dân và ngôn ngữ. Tiếng lóng vừa là một hiện tuợng văn học vừa là một kết quả xã hội. Tiếng lóng, căn bản là gì? Là ngôn ngữ của tiếng lóng khốn cùng. Mọi nghề, mọi nghiệp, có thể mọi ngẫu nhiên của hệ thống xã hội và hết thảy các hình thức của trí tuệ, đều có tiếng lóng của nó. Về phuơng diện thuần túy văn học, nghiên cứu tiếng lóng có thể kỳ thú hơn nhiều khoa học khác...".
Ngày nay, phần lớn giáo trình ngôn ngữ học đại cuơng, tiếng lóng là nội dung không thể thiếu đối với chuyên đề từ vựng học. Trong các hội nghị, hội thảo khoa học - nhu hội nghị "Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ" đuợc tổ chức quy mô vào cuối tháng 10-1979, một số báo cáo nghiên cứu về tiếng lóng đã thu hút sự quan tâm của nhiều nguời. Cho đến nay, tồn tại lắm định nghĩa, cách phân loại và đánh giá khác nhau về tiếng lóng.

Tiếng lóng (Hán: lí ngữ; Pháp: argot, Anh: slang cant/jargon) đuợc Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (1992) cắt nghĩa: "Cách nói một ngôn ngữ riêng trong một tầng lớp hoặc một nhóm nguời nào đó, nhằm chỉ để cho trong nội bộ hiểu đuợc với nhau mà thôi". Từ điển Petit Larousse illustré (1973) định nghĩa tiếng lóng: "Từ vựng riêng biệt của một nhóm, một nghề hoặc một giai tầng xã hội". Hiện đại Hán ngữ từ điển xuất bản ở Bắc Kinh (Trung Quốc -1998) giải thích về li yu (lí ngữ); "Những phuơng ngôn thô tục hoặc luu hành hạn hẹp". Advanced learner's English dictionary (1993) viết về tiếng lóng: "Các từ, cụm từ rất thân mật, không nghi thức, thuờng dùng trong lời nói, nhất là giữa những nguời cùng một nhóm xã hội, làm việc cùng nhau và không đuợc xem là thích hợp cho những bối cảnh nghi thức, cũng nhu chẳng thể sử dụng lâu dài". Qua loạt định nghĩa vắn gọn và phổ thông ấy, một số yếu tố của tiếng lóng đã bộc lộ:

1. Ðây là loại khẩu ngữ đặc thù dùng để giao tiếp phi chính thức trong một phạm vi xã hội hạn chế.

2. Hoàn toàn thuộc lĩnh vực từ vựng và có tính chất lâm thời, bất ổn định.
Tuy nhiên, các từ điển vừa dẫn đã không phân biệt tiếng lóng với biệt ngữ và tiếng nghề nghiệp. Giáo su Ðỗ Hữu Châu biên soạn Giáo trình Việt ngữ (Tập II: Từ hội học - NXB Giáo dục 1962) cho rằng: "Tiếng lóng (argot des déclassés) bao gồm một số từ bí hiểm để che dấu tu tuởng của nguời nói, không cho nhiều nguời ngoài tập đoàn xã hội của mình biết". Cũng Giáo su Ðỗ Hữu Châu, qua giáo trình Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt (NXB Giáo dục 1981), lại chỉ ra: "Tiếng lóng bao gồm các đơn vị từ vựng thuộc loại thứ hai trong các biệt ngữ, tức là những tên gọi "chồng lên" trên những tên gọi chính thức. Hiện tuợng tiếng lóng là phổ biến đối với mọi tập thể xã hội. Hầu nhu tất cả các tập thể xã hội nào đã có cái gì chung về sinh hoạt hay về sản xuất, làm việc... thì đều có những tiếng lóng của riêng mình. (...) Do nhiều động lực khác nhau, nhu do ý muốn "tự bộc lộ" cái vẻ riêng của tập thể mình, do muốn gây đuợc những sự chú ý đặc biệt, muốn che giấu những điều mà những nguời ngoài tập thể không nên biết, muốn biểu thị thái độ một cách mạnh mẽ... mà hằng ngày hằng giờ trong các tập thể xã hội đều xuất hiện tiếng lóng. Những tiếng lóng này rất "phù du", không hệ thống, lẻ tẻ, xuất hiện rồi mất ngay". Một số nhà nghiên cứu nhu Luu Vân Lăng (1960), Hoàng Thị Châu (1989)... liệt tiếng lóng vào loại không lấy gì làm tốt đẹp vì phạm vi luu hành "là trong đám nguời làm những nghề bất luơng, bị xã hội ngăn cấm nhu bọn cờ bạc bịp, bọn ăn cắp, bọn buôn lậu". Sách Ngôn ngữ học: khuynh huớng - lĩnh vực - khái niệm của nhiều tác giả (NXB Khoa học Xã hội 1994) còn khẳng định: "Khác biệt ngữ, tiếng lóng có nghĩa xấu".

Thực tế thì ở một số truờng hợp, ranh giới giữa tiếng lóng với biệt ngữ và tiếng nghề nghiệp khó phân lập rạch ròi. Do đó, nhà nghiên cứu Da Zhaomin của Trung Quốc (1996) đề xuất cách gọi khác: ấn ngữ / ám ngữ / hắc thoại. Tác giả này lại chia ra hai loại lớn, gọi là "ẩn ngữ nghề nghiệp" và "ẩn ngữ giang hồ". Nếu thế thì cũng chua lấy gì làm rành mạch!

Một thực tế nữa: chua hẳn tiếng lóng "chỉ thuộc bọn nguời xấu", là "ngôn ngữ duới đáy xã hội". Giáo su Ðỗ Hữu Châu từng nêu thí dụ về tiếng lóng của giới sinh viên một thời, nhu mẹ đốp nhằm trỏ các nữ sinh đáo để, nhuận sắc có nghĩa là "đẹp một cách tuơi mát", ngỗng để chỉ điểm hai, gậy - điểm 1...

Tùy quan niệm rộng hẹp mà có những cách nhìn nhận khác nhau về tiếng lóng đối với công cuộc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt hiện nay.

Tiếng lóng với ngôn ngữ toàn dân

Tiếng lóng Việt Nam đã đuợc bao học giả trong lẫn ngoài nuớc chú ý nghiên cứu từ đầu thế kỷ 20. Một trong những công trình đầu tiên về đề tài lý thú này là của J.N. Cheon, mang tiêu đề L'argot anamite (Tiếng lóng Việt Nam) đăng trên tập san truờng Viễn Ðông Bác Cổ (BEFEO) từ năm 1905. ỨNG HÒE NGUYỄN VĂN TỐ (1889-1947) từng có khảo luận L'argot anamite de Hanoi (Tiếng lóng Việt Nam ở Hà Nội) công bố năm 1925. Nhiều chuyên gia về Việt ngữ học thời gian qua cũng dành công sức nhất định để nghiền ngẫm về tiếng lóng. Ðến nay, tồn tại hai quan điểm trái nguợc nhau trong việc nhìn nhận hiện tuợng ngôn ngữ đặc thù này.

Một quan điểm cho rằng tiếng lóng là hiện tuợng không lành mạnh trong ngôn ngữ, nó chỉ tồn tại ở xã hội có giai cấp và mất dần đi, vì vậy phải triệt để chống tiếng lóng và kiên quyết gạt nó ra khỏi ngôn ngữ văn hóa. Ðó là ý kiến của Nguyễn Văn Tu và Nguyễn Kim Thản... trình bày qua các ấn phẩm Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại (NXB Ðại học và Trung học Chuyên nghiệp 1976) hoặc Tiếng Việt trên đuờng phát triển (NXB Khoa học Xã hội 1982). Hãy đọc một đoạn trong tài liệu vừa dẫn đề cập đến tiếng lóng; "...không có tác dụng tích cực, không làm giàu thêm ngôn ngữ toàn dân" (tr.188)

Quan điểm khác thì đề nghị chấp nhận những tiếng lóng tốt, tích cực, nhằm bổ sung cho ngôn ngữ toàn dân. Ðó là ý kiến của Trịnh Liễn và Trần Văn Chánh... phát biểu trong hội nghị "Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ" đuợc tổ chức tại Hà Nội năm 1979. Ðồng quan điểm ấy, Nguyễn Thiện Giáp soạn sách Từ vựng học tiếng Việt (NXB Ðại học và Trung học Chuyên nghiệp 1985) đã đặt tiếng lóng trong mối quan hệ với toàn bộ lớp từ tiếng Việt rồi cho rằng: Chỉ nên lên án những tiếng lóng "thô tục"; còn loạt tiếng lóng "không thô tục: là tên gọi có hình ảnh của sự vật, hiện tuợng nào đó thì có khả năng phổ biến và thâm nhập dần vào ngôn ngữ toàn dân. Sách này còn chỉ ra rằng tiếng lóng chính là một phuơng tiện tu từ học đuợc dùng để khắc họa tính cách và miêu tả hoàn cảnh sống của nhân vật trong các tác phẩm văn học nghệ thuật. Ðây cũng chính là điều mà nhiều nhà nghiên cứu về tu từ học (rhétorique) về phong cách học (stylistique), cũng nhu nhiều cây bút văn chuơng, báo chí quan tâm tìm hiểu và vận dụng.

Học giả Nguyễn Hiến Lê rất có lý khi cho rằng một trong những đoạn hay nhất trong Truyện Kiều của Nguyễn Du chính là lời thoại độc địa phát ra từ miệng Tú Bà lúc mụ "Nổi tam bành mụ lên" truớc Thúy Kiều:

Này này sự đã quả nhiên
Thôi đà cuớp sống chồng min đi rồi!
Bảo rằng đi dạo lấy nguời
Ðem về ruớc khách kiếm lời mà ăn
Tuồng vô nghĩa ở bất nhân
Buồn mình truớc đã tần mần thử chơi
Màu hồ đã mất đi rồi
Thôi thôi vốn liếng đi đời nhà ma!
Con kia đã bán cho ta
Nhập gia phải cứ phép nhà tao đây
Lão kia có giở bài bây
Chẳng văng vào mặt mà mày lại nghe
Cớ sao chịu tốt một bề
Gái tơ mà đã ngứa nghề sớm sao!

Có thể tìm thấy trong đoạn lục bát đó ngồn ngộn tiếng lóng của giới "buôn phấn bán son" ở xã hội Việt Nam đầu thế kỷ 19: đi dạo, ruớc khách, buồn mình, màu hồ, bài bây... Ví nhu thay loại từ ấy bằng chữ nghĩa "nghiêm chỉnh", ắt đoạn văn không chỉ mất hay mà còn hỏng nặng!

Tuơng tự nhu thế, nếu không tích lũy vốn tiếng lóng phong phú để sử dụng phù hợp, thì bao phóng sự và tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng (1912-1939) làm sao cuốn hút độc giả. Từ thiên phóng sự Cạm bẫy nguời viết năm 1933, nhà báo - nhà văn Vũ đã "đua ra ánh sáng" cả lô tiếng lóng tồn tại trong giới cờ bạc bịp thời đó: mòng, mẻng, bắt, viên đạn, hòn đạn, của, lộ tẩy, cản, quýnh... Ðến các tác phẩm Kỹ nghệ lấy Tây (1934), Số đỏ (1936), Làm đĩ (1936), Lục xì (1937)... thì Thiên Hu Vũ Trọng Phụng trình thêm vô số "ẩn ngữ giang hồ" mà công chúng bình thuờng bấy giờ khó biết nổi: chạy làng, chánh, chúa, hao đào, ngày phiên, trô, xé giấy... Một tiểu thuyết nổi tiếng cũng vào giai đoạn ấy là Bỉ vỏ của Nguyên hồng (1918-1982) đuợc xem đã chứa đựng một luợng lớn tiếng lóng, từ tiêu đề cho đến nội dung, với nhiều câu mà bạn đọc hẳn chua quên:

Anh đây công tử không vòm.

Ngày mai kện rập biết mòm vào đâu?

Trong số tiếng lóng thời kỳ qua, giờ dây có bao nhiêu đơn vị từ vựng trở thành quen thuộc và đi vào ngôn ngữ phổ thông? Chắc chắn không ít. Giáo su Ðỗ Hữu Châu từng trung dãn cả loạt tiếng lóng đuợc chấp nhận vào vốn từ ngữ chung: ba hoa, lộ tẩy, nguội điện, cổ lỗ sĩ, gạo, phe phẩy... Các tác giả sách Tiếng Việt trên đuờng phát triển (sđd, tr.188) cũng ghi nhận những tiếng lóng đã hội nhập vào ngôn ngữ toàn dân: quay cóp, móc ngoặc, phớt lờ... Tra cứu các từ điển tiếng Việt hiện đại, chúng ta còn phát hiện bao tiếng lóng từng hiện hữu trong quá khứ.

Tiếng Việt, cũng nhu các ngôn ngữ khác, luôn cần đuợc cộng đồng sử dụng cố gắng gìn giữ sự trong sáng đồng thời với việc tích cực phát triển. Nói cách khác, phát triển vừa là nguyên nhân, vừa là mục đích trong công cuộc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Theo quy luật chung, phát triển mạnh nhất luôn là từ vựng. Ðóng góp vào khía cạnh này, rõ ràng có tiếng lóng. Sau một thời gian tồn tại chính thức, bất ổn định trong một phạm vi xã hội hạn hẹp, biết bao tiếng lóng sẽ không còn là... tiếng lóng. Hoặc chúng biến mất. Hoặc chúng trở thành đơn vị từ ngữ của toàn dân, đuợc mọi nguời sử dụng rộng rãi, không chỉ tồn tại trong các tác phẩm văn chuơng báo chí, hoặc trên màn bạc, màn nhung, mà còn xuất hiện cả ở nhiều văn bản hành chính. Từ xì ke, xuất xứ bởi tiếng lóng scag, là một ví dụ.

Quanh một từ điển tiếng lóng

Nhu đã nói, tiếng lóng là một hiện tuợng ngôn ngữ học xã hội có vai trò đáng kể đối với vốn từ vựng của toàn dân. Từ truớc tới nay, nhiều chuyên gia về Việt ngữ đã quan tâm nghiên cứu tiếng lóng, song chỉ mới trình bày qua một vài chuơng đoạn trong các công trình liên quan đến từ vựng học, tu từ học, phong cách học; hoặc mới chỉ dừng lại ở báo cáo khoa học - nhu của Trịnh Liễn và Trần Văn Chánh năm 1979; hoặc mới giới hạn trong khuôn khổ bài báo - nhu bài Tiếng lóng trong giao thông vận tải của Chu Thị Thanh Tâm (Ngôn ngữ và đời sống, 1998). Cũng có vài sinh viên làm khóa luận tốt nghiệp đại học với đề tài tiếng lóng, nhu Lê Lệnh Cáp (1989) hoặc Luơng Văn Thiện (1996). Tuy nhiên, một ấn phẩm độc lập đề cập về tiếng lóng và đuợc phát hành rộng rãi thì mãi tới gần đây mới thấy xuất hiện. Ðó là sách Tiếng lóng Việt Nam của tác giả Nguyễn Văn Khang, do NXB Khoa học Xã hội ra mắt vào tháng 4-2001.

Sách Tiếng lóng Việt Nam gồm 236 trang (khổ 13x19 cm) đuợc chia làm hai phần. Phần đầu là khảo luận Ðặc điểm của tiếng lóng Việt Nam chiếm 39 trang (từ trang 9 đến 48). Phần còn lại là Từ điển từ ngữ lóng tiếng Việt. Do đó, xét về dung luợng, sách chính là pho từ điển tiếng lóng Việt Nam - một công trình biên soạn rất hữu ích với nhiều nguời. Song le, nếu mua và sử dụng cuốn sách công cụ này, bạn đọc ắt không tránh khỏi phân vân.

Ðiều đầu tiên là soạn giả bỏ sót một thao tác tuy đơn giản song bất kỳ nhà từ điển học nào cũng đều chú ý nêu bật truớc tiên: Thống kê số luợng mục từ hiện hữu trong từ điển. Kế tiếp, đặc trung của từ điển này là tiếng lóng Việt Nam - mà soạn giả đã xác định rõ tính chất của nó là dạng ngôn ngữ "ký sinh" và "lâm thời" - thì điều cần thiết là phải hạn định thời gian chặt chẽ. Một đơn vị từ vựng ở thời điểm này là tiếng lóng, nhung thời điểm sau đấy thì hết còn là tiếng lóng nữa rồi. Ấy thế mà từ điển này thu thập tiếng lóng suốt thời gian dài và lại... ngắt quãng: Trong tác phẩm Bỉ vỏ của Nguyên Hồng (vào những năm 1930); rồi từ ngữ lóng xuất hiện cuối những năm 1970, đầu 1980, liên quan đến nhóm xã hội "vuợt biên - di tản"; và từ ngữ lóng trong khoảng 10 năm trở lại đây, tức thập niên 1990...

Ði vào nội dung từ điển tiếng lóng của Nguyễn Văn Khang, bạn đọc có hiểu biết ít nhiều về lĩnh vực này ắt không tránh khỏi thất vọng vì cách biên soạn thiếu khoa học. Buồn cuời nhất là tồn tại khá lớn tiếng lóng bị định nghĩa... sai! Trong một ý kiến ngắn đăng trên tờ Tuổi Trẻ chủ nhật 24-6-2001, Bùi Cát đã sơ bộ chỉ ra chín đơn vị từ vựng mà từ điển này cắt nghĩa trật lất: khâu chẳng phải "cây vàng" (lạng/luợng vàng); nhạc sến chua hẳn "nhạc buồn"; tài pán không phải "chủ chứa"; mắt trừu không phải "bao cao su tránh thai"; hết xí quách không có nghĩa "hết tiền"; mặt rô (maquereau/ma cô) cũng chua chắc "dân giang hồ, dao búa"; còn bà già không phải chỉ mọi loại "máy bay cánh quạt".

Có thể trung dẫn thêm cả lô tiếng lóng đã bị từ điển này định nghĩa hoặc chua đầy đủ, hoặc nhầm lẫn đến mức... phi thực! Từ ái chẳng hạn, đâu chỉ là "con trai có tính cách, cử chỉ, điệu bộ rụt dè (sic!) nhu con gái". Thế con gái cũng bị gọi ái thì sao? Chẳng qua, đấy là rút gọn cụm từ "ái nam ái nữ", dùng để chỉ truờng hợp luỡng giới tính (bisexual), có khi còn đuợc hiểu là đồng tính ái (homosexual). Tiếng lóng đó cũng đồng nghĩa gai/ bóng / pê-đê / bê-đê (do chữ gay hoặc pédérastre, chỉ đồng tính ái nam); chứ bê-đê không phải là "giật đồng hồ" (tr.65). Giới "xã hội đen" thuờng gọi hành động giật đồng hồ bằng các tiếng lóng thổi đổng hoặc bốc hồ / múc hồ / tát hồ... Từ bắt dế cũng đâu chỉ có nghĩa "chép tài liệu vào miếng giấy nhỏ quấn lại bằng con dế mang vào phòng thi" (tr.63) mà còn là hành động nhặt tàn thuốc lá. Từ chặt hẻo chẳng phải chỉ mọi hình thức "chơi bài ăn tiền", mà là cách gọi một lối chơi với bộ bài tây: tiến lên. Chứ đánh xì phé, binh xập xám... dù ăn tiền hay không, chẳng ai gọi là chặt hẻo cả. Hàng tiền đạo có nghĩa dãy răng cửa, chứ nào phải "hàm răng hơi bị vẩu". Kết mô-đen không chỉ "quan hệ yêu đuơng" mà nói chung là thích, là khoái, là muốn. Mátximum đâu phải "nhậu hết cỡ", mà là bất kỳ cái gì đạt tới nguỡng cực đại do chữ maximum (trái với minimum).

Từ điển lại ghi sai chính tả không ít từ ngữ, điều khó chấp nhận đối với loại sách dùng để tra cứu. Thí dụ nhu rụt dè (rụt rè), sui (xui/rủi) thấy mồ... Nhiều tiếng lóng bị ghi không đúng hình thức ngữ âm. Chẳng hạn bá chảy (bá cháy / bá chấy), chè nghim (chè ghim), đam chuột (đâm chuột)... Từ chè ghim vốn do nói lái từ "chìm ghe" mà có. Từ đâm chuột, tức đâm tí, nói lái chệch thành "đi tắm". Do thiếu khảo sát kỹ về từ nguyên, đặc biệt là những tiếng lóng có nguồn gốc ngoại ngữ hoặc đuợc cấu tạo bởi phuơng thức nói lái, nên soạn giả chua đua đuợc lời giải thích đúng, đủ và có sức thuyết phục. Ðó là truờng hợp loạt từ đai, mo, xuya, bứt cỏ, chà đồ nhôm, hạ cờ tây...

Lại thấy ngồn ngộn trong từ điển bao đơn vị từ vựng lâu nay thuộc ngôn ngữ toàn dân, thậm chí đã đi vào văn chuơng, ai ai cũng biết, cũng hiểu, cớ sao soạn giả xếp vào kho tiếng lóng? Nhu các từ mây mua hoặc gò bồng đảo vốn là các điển cố mà bạn đọc quá quen thuộc qua thơ Nguyễn Du, Hồ Xuân Huơng... Hoặc loạt từ ngữ bình thuờng, chẳng mang nghĩa đặc biệt và bí hiểm gì cả, nhu ấm đầu, bà xã, bộ cánh, bộ đồ vía, của quý, gà mờ, keo (kiệt), bao (cao su), ô dù, phê, đã, quỹ đen, sa luới, sâu mọt, tồ, trồng cây si, viêm màng túi, vuợt cạn, xe ôm... mà cho là tiếng lóng e chua thích đáng.

Trong Việt ngữ hiện đại, tiếng lóng ngày càng có xu huớng phát triển mạnh, nhất là đối với giới trẻ ở các đô thị, tạo nên hiện tuợng mà các nhà nghiên cứu gọi là ngôn ngữ đuờng phố (street language). Hiểu biết và vận dụng tiếng lóng đạt mức độ cần thiết sẽ tạo nên những tác phẩm văn học, báo chí giá trị và có sức hấp dẫn. Jacques Prévert (1900-1977) ở Pháp là một minh chứng sinh động: thơ của ông đầy rẫy tiếng lóng, có tập đuợc xuất bản tới hàng triệu cuốn. Ðó là "hiện tuợng thi ca" vô tiền khoáng hậu, khiến mọi nguời suy nghĩ. Ngay đến việc dịch thuật, với những văn bản nhất định, cũng rất cần tiếng lóng. Tiểu thuyết The Godfather (Bố già) nổi tiếng của Mario Puzo đã đuợc nhiều nguời dịch ra tiếng Việt, song bản chuyển ngữ của Ngọc Thứ Lang đuợc xem thành công nhờ biết tìm đuợc nhiều tiếng lóng tuơng ứng.

Rõ ràng, không chỉ các cây bút viết lách, dịch thuật, mà nhiều ngành hoạt động khác (nhu kịch nghệ, phim ảnh, giáo dục, từ thiện xã hội, công an...) đều cần có từ điển tiếng lóng. Ðông đảo bạn đọc cũng cần để tra cứu cuốn sách, công cụ ấy bao giờ mới ra lò?.


VÕ NGÂN VƯƠNG

0 Comment(s)

BÀI VIẾT KHÁC